GIẢI MÃ NGUỒN GỐC CHỮ QUỐC NGỮ

29/04/2021 11:01 114

TS.Phan Tử Phùng

* * *

            I. CHỮ QUỐC NGỮ - CHỮ VIẾT TIẾNG VIỆT BẰNG CHỮ LATINH

          Sự kiện lịch sử sáng tạo ra chữ Quốc ngữ ở đầu thế kỷ thứ XVII là một sự kiện lịch sử văn hóa trọng đại, làm thay đổi hoàn toàn nền văn hóa chữ viết của Việt Nam, từ Hán Nôm biểu ý, tượng hình, ô vuông, khó viết, khó đọc, khó học, khó nhớ sang Quốc ngữ biểu âm dễ viết, dễ đọc, dễ học, dễ nhớ, mở ra một không gian vô tận cho tư duy của người Việt, cung cấp cho người Việt một công cụ giải phóng trí tuệ hữu hiệu và tuyệt vời, giúp cho nhân dân Việt Nam nâng cao trình dộ mọi mặt, dễ dàng, hội nhập với xu thế toàn cầu hóa.

          Sự sáng tạo ra chữ Quốc ngữ cũng là một thành tựu kỳ diệu của sự giao lưu văn hóa Á Âu giữa Việt Nam với các nước hệ ngôn ngữ Rôman ở Châu Âu vào đầu thế kỷ thứ XVII, làm cho văn hóa chữ viết Á Âu gần gũi, gắn bó với nhau, quân hệ mật thiết với nhau hơn, góp phần làm phong phú thêm cho nền văn hóa chung của nhân loại.

          Chữ Quốc Ngữ không phải là một sản phẩm nhập ngoại từ Châu Âu vì ở Châu Âu không có chữ Quốc Ngữ.

          Chữ Quốc Ngữ được thế giới công nhận là chữ Tiếng Việt của người Việt Nam. Chữ Quốc Ngữ đã trở thành tên của một mục tử trong các Từ điển ngôn ngữ của thế giới (Từ điển La Rousse, Từ điển Robert…). Chữ Quốc Ngữ là một sản phẩm “Made in VietNam”.

          Giải mã nguồn gốc chữ Quốc Ngữ không phải là để trả lời câu hỏi: Ai đã đẻ ra chữ Quốc Ngữ. Chữ Quốc Ngữ không phải là một phát minh khoa học được lịch sử công nhận để người đã phát minh ra nó được tôn xưng là cha đẻ, lả ông tổ của chữ Quốc Ngữ.

          Giải mã nguồn gốc chữ Quốc ngữ là giải mã cho câu hỏi: “Tại sao Tiếng Việt lại có thể viết được bằng chữ Latinh hay tại sao chữ Latinh, chữ viết của hệ ngôn ngữ Rôman đa âm có biến cách của Châu Âu lại có thể dễ dàng vận dụng để viết được Tiếng Việt, tiếng của hệ ngôn ngữ đơn âm nhưng đa thanh của Châu Á”. Không có ai là cha đẻ của chữ Quốc ngữ.

          Giải mã nguồn gốc chữ Quốc ngữ, chúng ta thấy tự hào với vị thế của Tiếng Việt, của người Việt trong tiến trình sáng tạo ra chữ Quốc ngữ, một sản phẩm hoàn toàn được sản sinh ra trên đất Việt, một đất nước mà mọi sáng tạo văn hóa tốt đẹp không phân biệt đến từ đâu, từ phương trời nào đều được trân trọng tiếp nhận để làm giàu cho gia tài văn hóa của đất nước mình.

`        Chữ Quốc ngữ là chữ viết Tiếng Việt bằng chứ Latinh. Chữ Quốc ngữ có nội hàm ngữ âm Việt là cái hồn, cái ruột ở bên trong và các mẫu tự biểu âm Latinh là cái vỏ, cái hình thức ở bên ngoài”.

          Cái hồn ngữ âm Việt ở phía trong với các chữ Latinh ở phía ngoài gắn bó khăng khít với nhau như cơ thể của một con người. Người Việt là người thẩm định độ chuẩn xác của ngữ âm Việt trong quá trình cùng với người Bồ sáng tạo ra chữ Quốc ngữ - chữ viết Tiếng Việt bằng chữ Latinh.

          Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn âm nhưng đa thanh. Ngữ âm Việt tương thích với các mẫu tự biểu âm Latinh, nên Tiếng Việt có thể dễ dàng đọc được đúng và chuẩn các nguyên âm và phụ âm Latinh.

          Sự sáng tạo ra chữ Quốc ngữ là sự vận dụng sáng tạo tính tương thích của Tiếng Việt với các mẫu tự biểu âm Latinh để các nhà truyền giáo Dòng Tên là những nhà ngôn ngữ học tài ba người Bồ, người Ý, người Pháp thuộc hệ ngôn ngữ Rôman đã dùng chữ Latinh ghi âm được từng âm tiết, từng lời, từng tiếng nói của Tiếng Việt trong thực tiễn học nói tiếng Việt với người Việt. Người Việt dạy họ học nói Tiếng Việt lại giúp thẩm định độ chuẩn xác của âm Tiếng Việt, những ghi âm Tiếng Việt bằng chữ Latinh của họ, từ đó các giáo sĩ Dòng Tên hệ ngôn ngữ Rôman đã cùng người Việt sáng tạo ra một hệ thống chữ viết Tiếng Việt bằng chữ Latinh được gọi là chữ Quốc ngữ.

            II- CHỮ QUỐC NGỮ - THÀNH QUẢ KỲ DIỆU CỦA DUYÊN TƯƠNG NGỘ CỦA TIẾNG VIỆT VỚI CHỮ LATINH

          1. Sự tương ngộ của Tiếng Việt với chữ Latinh

          Người xưa có câu: “Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, vô duyên đối diện bất tương phùng”. Giữa thế kỷ thứ XVII người Bồ Đào Nha ở Viễn Tây của Châu Âu mang theo chữ viết tiếng Bồ Đào Nha bằng chữ Latinh vượt biển, đi xa ngàn dặm đến Việt Nam ở Viễn Đông Châu Á học nói Tiếng Việt để làm công cụ truyền đạo Công giáo do dòng Tên thực hiện dưới quy chế bảo trợ của Bồ Đào Nha.

          Theo Hiệp ước Tordesillas năm 1498 ký kết giữa hai nước Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha do Giáo hoàng dàn xếp thì Tây Ban Nha được quyền thám hiểm và truyền giáo phía Tây (phía Châu Mỹ), Bồ Đào Nha được quyền thám hiểm và truyền giáo phía Đông (Ấn Độ và Châu Á).

          Các giáo sĩ theo thương thuyền Bồ Đào Nha đến Việt Nam từ năm 1523. Theo một thống kê của Linh mục Đỗ Quang Chính thì trong số 145 giáo sĩ thuộc 17 quốc tịch đến đàng trong (miền đất phía Nam Việt Nam do chúa Nguyễn quản lý thời Trịnh Nguyễn phân tranh) truyền giáo từ các năm 1615 đến 1788 có 74 người Bồ Đào Nha và 3 người Ý.

          Ở thời kỳ ấy, Tiếng Việt đã là một ngôn ngữ văn học phát triển ở trình độ cao với những lời thơ xúc tích, trầm bổng, mượt mà của thơ ca lục bát và thất ngôn lục bát, với những lời văn rõ ràng, mạch lạc và khúc chiết của ngôn ngữ chính luận trong Hịch tướng sỹ, trong Bình Ngô đại cáo, song chữ viết thì vẫn là loại chữ tượng hình, biểu ý, ô vuông của Hán Nôm.

          Tiếp xúc lần đầu tiên với Tiếng Việt, các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha là những nhà ngôn ngữ học có đẳng cấp (Péritus linguae) đã có những nhận xét và phân tích rất chính xác. Francisco de Pina (1583-1625) thì phân tích: “Ngôn ngữ Việt là ngôn ngữ có cung điệu giống như cung nhạc, cần phải biết xướng cho đúng thanh điệu trước đã, sau đó mới học các âm của bảng chữ cái” Christophono Borri (1583-1632) thì nhận xét: “Dường như người Việt bẩm sinh có một cơ thể, rất chính xác, được điều chỉnh thật đúng và hòa hợp hoàn toàn với trí óc và buồng phổi. Phải nói, theo tự nhiên người Việt là nhạc sư vì họ có tài phát âm một cách nhẹ nhàng và chỉ hơi biến thanh là đã khác nghĩa”.

          Chữ Quốc ngữ được khởi nguồn từ thực tiễn học nói Tiếng Việt của người Bồ Đào Nha và được nảy mầm từ sự tương thích của Tiếng Việt với chữ Latinh. Tiếng Việt đơn âm nhưng đa thanh nên dễ dàng đọc và phát âm đúng được tên tất cả các chữ cái Latinh là chữ viết của hệ ngôn ngữ Rôman. Do có sự tương thích đó nên khi học nói Tiếng Việt, để ghi nhớ và để dễ dàng phát âm khi nói lại những Tiếng Việt vừa học, người Bồ Đào Nha đã dùng chữ Latinh viết tiếng Bồ ghi âm lại dễ dàng từng âm tiết,từng từ vựng, từng câu nói Tiếng Việt. Người Việt dạy họ nói Tiếng Việt lại giúp họ thẩm định lại độ chuẩn xác của âm Tiếng Việt những âm tiết, những từ vựng, những câu nói được ghi âm bằng chữ Latinh viết tiếng Bồ.

          Chính những từ vựng, những câu nói Tiếng Việt được người Bồ ghi âm bằng chữ Latinh viết tiếng Bồ và được người Việt thẩm định độ chuẩn xác của âm Tiếng Việt là nguồn gốc của Tiếng Việt viết bằng chữ Latinh mà ngày nay được gọi là chữ Quốc ngữ.

          Sự giao tiếp hòa bình và thân thiện nhưng nghiêm túc và khoa học như vậy giữa người Bồ Đào Nha học nói Tiếng Việt và người Việt dạy nói Tiếng Việt cho người Bồ Đào Nha đã dần dà làm tích lũy ra một bộ sưu tập Từ vựng Tiếng Việt viết bằng chữ Latinh có mượn thêm các dấu âm thanh từ tiếng cổ Hy Lạp để biểu thị các thanh (sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng) của Tiếng Việt. Trong quá trình học nói Tiếng Việt, những bộ sưu tập từ vựng Tiếng Việt viết bằng chữ Latinh như vậy ngày càng được bổ sung phong phú và càng dày thêm trở thành những bộ Từ điển Việt – Bồ và Bồ - Việt viết tay đầu tiên được xuất hiện vào khoảng thời gian từ 1635 đến 1645. Đó là Từ điển Việt - Bồ viết tay của Gaspar do Amaral (1592-1646) và Từ điển Bồ - Việt viết tay của Antonio Barbosa (1592-1647).

          Alexandre de Rhodes (1591-1660) người Pháp đến Việt Nam cuối năm 1624 đầu năm 1625 được Francisco de Pina dạy nói Tiếng Việt trong 4 tháng thì nói được Tiếng Việt. Dựa trên phương pháp ghi âm Tiếng Việt của Francisco de Pina và trên cơ sở hai bộ Từ điển viết tay Việt - Bồ của Gaspar do Amaral và Bồ - Việt của Antonio Barbosa, Alexandre de Rhodes tập hợp, bổ sung, chỉnh lý và biên soạn cuốn Từ điển Việt - Bồ - La được nhà in của Thánh bộ truyền giáo ở Rôma cho in và xuất bản năm 1651.

          Đó là cái mốc đánh dấu sự chính thức ra đời trên sân khấu ngôn ngữ học thế giới của chữ Quốc ngữ, chữ viết Tiếng Việt bằng chữ Latinh. Điều đó cũng chứng minh và khẳng định rằng Tiếng Việt, tiếng nói của người Việt Nam có thể và hoàn toàn có thể viết bằng chữ Latinh vừa dễ viết, dễ đọc, dễ học, dễ nhớ hơn hẳn chữ Hán Nôm tượng hình, biểu ý khó viết, khó đọc, khó học, khó nhớ.

          Sự sáng tạo ra chữ Quốc ngữ là sự vận dụng sáng tạo cách viết Tiếng Việt bằng chữ Latinh theo cách viết tiếng Bồ Đào Nha bằng chữ Latinh, Đó là cách dùng các chữ cái Latinh có âm tương ứng với từng âm tiết của Tiếng Việt rồi đem ghép các chữ cái biểu âm ấy lại thành chữ viết Tiếng Việt như cách viết tiếng Bồ Đào Nha bằng chữ Latinh. Sự sáng tạo này khởi nguồn từ thực tiễn học nói Tiếng Việt của người Bồ Đào Nha và được nẩy mầm từ sự tương thích của Tiếng Việt với chữ Latinh.

           Chữ Quốc ngữ - thành tựu kỳ diệu của duyên tương ngộ của chữ Latinh với Tiếng Việt và tâm lý người Việt.

          Tính tương thích về ngôn ngữ là cái duyên để người Bồ Đào Nha khi học Tiếng Việt dễ dàng vận dụng sáng tạo cách viết Tiếng Việt bằng chữ Latinh theo cách viết tiếng Bồ Đào Nha bằng chữ Latinh, từ đó sáng tạo ra chữ Quốc ngữ, loại hình chữ dễ viết, dễ đọc, dễ học, dễ nhớ, phù hợp với tâm lý thân thiện, dễ dàng tiếp nhận những điều mới tốt lành của người Việt nên đã được trân trọng tiếp nhận và nhanh chóng đơm hoa kết quả rực rỡ trên đất Việt.

          Đó là một thành quả kỳ diệu mà người Bồ Đào Nha không thể nào thực hiện được việc Latinh hóa chữ viết tiếng Hoa dù họ có cả một Trung tâm truyền giáo to lớn ở MaCao là thuộc địa của Bồ Đào Nha ngay ở trên đất Trung Hoa (từ 1557 đến 1997). Bản thân người Hoa cũng biết chữ Hán khó viết, khó đọc, khó học, khó nhớ nên cũng đã dày công nghiên cứu việc Latinh hóa chữ viết. Chính đại văn hào Lỗ Tấn (1881-1936) từng trăn trối: Không diệt chữ Hán thì Trung Quốc sẽ mất nước”. Chủ tịch nước Trung Hoa Mao Trạch Đông cũng nói: “Lối thoát của chữ Hán là Latinh hóa”. Song mọi cố gắng của các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha và của các học giả Trung Hoa sau hơn 400 năm cũng đành bỏ cuộc khi vào năm 1986 Trung Quốc chính thức ra Nghị quyết tuyên bố: “Từ nay không đặt vấn đề Latinh hóa chữ viết tiếng Hoa nữa”. Trong muôn vàn lý do không thành công được việc Latinh hóa chữ viết tiếng Hoa có lẽ là do chữ Latinh không có cái duyên với tiếng Hoa và người Hoa như với Tiếng Việt và người Việt. Tiếng Hoa thường khó phát âm đúng chuẩn nhiều chữ cái Latinh biểu âm. Ví như chữ D thường bị phát âm thành chữ T và chữ R thường bị phát âm thành chữ L. Hai nốt nhạc Do, Re thường bị phát âm thành Tộ, Lề. Tên nhà truyền giáo quen thuộc De Rhodes thì được phát âm thành Tứa Lù (viết thành chữ Hán là Đắc Lộ); ông Darwin được phát âm thành Tá Ẩy Vến (viết thành chữ Hán là Đạt Nhĩ Văn); cũng như vậy ông Rousseau thành ông Lư Thoa; ông Montesquieu thành ông Mạnh Đức Tư Cưu.

          Về tâm lý tiếp nhận cái mới là chữ Latinh thì người Hoa cũng không dễ gì từ bỏ cái hào quang của hàng ngàn năm đã sáng tạo ra chữ Hán để đến với chữ Latinh. Người Hoa ở Đài Loan ngày nay thậm chí còn không chấp nhận chữ Hán giản thể của Trung Hoa Đại Lục vì cho rằng mỗi nét trong chữ Hán phồn thể đều có nội hàm về biểu ý của nét chữ ấy, dù một chữ Hán thường có nhiều nét, thậm chí hai ba chục nét, có chữ đến 56 nét, rất khó nhớ, khó viết, khó đọc, khó phổ cập, học chữ nào thì biết chữ ấy. Thuở mới sáng tạo ra chữ Hán ở đời Thương, đời Ân mới chỉ có hơn 2 ngàn chữ, đến đời Hán đã lên đến hơn 9 ngàn chữ. Đến nay trong kho chữ Hán đầy đủ có đến 91.251 chữ ! Làm sao để một người bình thường có thể nhớ hết được để viết, để đọc. Đó là cái khó của chữ viết tượng hình biểu ý. Với chữ viết  biểu âm như chữ Quốc ngữ của Việt Nam thì chỉ cần nhớ hai ba chục chữ cái Latinh là có thể viết được đủ mọi thứ muốn viết, đọc được đủ mọi thứ muốn đọc.

          3. Sự kế thừa trong sáng tạo chữ Quốc ngữ.

          Sự sáng tạo ra chữ Quốc ngữ không phải là một sự phát minh để người phát minh ra nó được lịch sử ghi nhận và tôn xưng là cha đẻ. Sự sáng tạo ra chữ Quốc ngữ là sự vận dụng sáng tạo cách viết Tiếng Việt bằng chữ Latinh theo cách viết tiếng Bồ Đào Nha bằng chữ Latinh, được khởi nguồn từ thực tiễn học Tiếng Việt của người Bồ và được nẩy mầm từ sự tương thích của Tiếng Việt với chữ Latinh. Sự tương thích này đã giúp người Bồ dễ dàng dùng chữ Latinh viết tiếng Bồ để ghi âm Tiếng Việt và từ đó đã hình thành những Tiếng Việt được viết bằng chữ Latinh và được người Việt thẩm định độ chuẩn xác của âm Tiếng Việt. Đó là nguồn gốc của sự sáng tạo ra chữ Quốc ngữ. Thành quả sáng tạo ra chữ Quốc ngữ là sự kế thừa những thành quả nối tiếp nhau của nhiều người qua nhiều thế hệ trong một thời gian dài nhất định.

          Người khởi đầu thực hiện việc dùng chữ Latinh viết tiếng Bồ để ghi âm Tiếng Việt khi học nói Tiếng Việt là Francisco de Pina (1585-1625) người Bồ Đào Nha đến Việt Nam năm 1617. Do có sự tương thích giữa Tiếng Việt với chữ Latinh và do Francisco de Pina có nhận thức đúng (rằng Tiếng Việt là một ngôn ngữ có cung điệu) và do có phương pháp đúng (là phải biết xướng cho đúng thanh điệu trước đã sau đó mới học các âm qua bảng chữ cái) nên Pina đã ghi âm và viết được Tiếng Việt bằng chữ Latinh chính xác đến mức kinh ngạc, gần giống nha chữ Quốc ngữ ngày nay.

Ghi âm của Pina

Chữ Quốc ngữ ngày nay

Kẻ có tài thì haọc

Kẻ có tài thì học

Thàng nào lành thì deạy

Thằng nào lành thì dạy

Cha lo viẹc bây giờ

Cha lo việc bây giờ

Đi đàng kia làm chi

Đi đằng kia làm chi

Hôm qua tôi mạc chép

Hôm qua tôi mắc chép

Thư nói chẳng được

Thư nói chẳng được

 

Trích từ tác phẩm: “Nhập môn tiếng Đàng Ngoài” dày 22 trang của Francisco de Pina

                                         Nguồn: Báo Khoa học và Đời sống số 24/11/2017.

          Francisco de Pina nhanh chóng học nói sõi Tiếng Việt rồi mở lớp dạy Tiếng Việt cho các giáo sỹ đến sau. Pina có dạy Tiếng Việt cho Alexandre de Rhodes trong 4 tháng và Rhodes cũng đã nhanh chóng nói sõi được Tiếng Việt. Pina có viết 3 tập Tiểu luận về chính tả, về các Thanh điệu và về Ngữ pháp Tiếng Việt. Ông mất sớm (12/1625) vì bị đuối nước khi cứu người bị lật thuyền ở Đầm Thị Nại.

          Đến Việt Nam cùng thời với Francisco de Pina là Christophono Borri (1583-1632), người Ý, sinh ở MiLan. Năm 1631, Borri dùng chữ Quốc ngữ viết cuốn: “Tường trình về khu truyền giáo Đường Trong và các hoạt động truyền giáo thời kỳ 1618-1620” và Tiểu luận: “Phương pháp Latinh hóa Tiếng Việt”. Các bản viết tay của Borri còn được lưu trữ ở nhà thờ Mằng Lăng - nhà thờ Công giáo lâu đời nhất ở Việt Nam nằm ở địa phận Nước Mặn, Tuy Phước, Bình Định.

          Kế thừa các công trình về chữ Quốc ngữ của Francisco de Pina và của Christophono Borri, các giáo sỹ Gaspar do Amaral (1592-1645) và Antonio Barbosa (1594-1647) đã biên soạn hai bộ Từ điển viết tay Việt – Bồ của Gaspar do Amaral và Bồ - Việt của Antonio Barbosa. Gaspar do Amaral là người đã sáng tạo ra chữ Đ để phân biệt hai chữ D Đ.

          Alexandre de Rhodes (1591-1660) người Pháp đến Việt Nam vào cuối năm 1624 đầu năm 1625 đã tập hợp, bổ sung, chỉnh lý, đưa thêm tiếng Latinh vào đối chiếu với Tiếng Việt biên soạn thành công bộ Từ điển Việt – Bồ - La được Nhà in Thánh bộ truyền giáo ở Rôma cho in và xuất bản năm 1651.

          Từ điển Việt – Bồ - La của Alexandre de Rhodes là một công trình khoa học nghiêm túc có dung lượng 8.000 từ, lại đưa Tiếng Việt viết bằng chữ Quốc ngữ đối chiếu với tiếng Latinh là ngôn ngữ thế giới chuẩn cho ngôn ngữ khoa học và ngôn ngữ chính trị của thế kỷ thứ XVII làm nâng cao vị thế của Tiếng Việt trên diễn đàn ngôn ngữ học quốc tế. Từ điển Việt – Bồ - La được in ấn và được lưu trữ ở Văn khố lưu trữ của Thánh bộ truyền giáo ở Rôma nên được đánh giá là cái mốc chính thức ra đời của chữ Quốc ngữ, chữ viết Tiếng Việt bằng chữ Latinh trên sân khấu ngôn ngữ học thế giới.

          Thời gian chính thức ra đời của chữ Quốc ngữ cũng là thời gian khép lại của sự kiện lịch sử sáng tạo ra chữ Quốc ngữ, mở ra một thời kỳ hàng trăm năm tiếp theo của giai đoạn hoàn thiện và phát triển rực rỡ của chữ Quốc ngữ ở thế kỷ XVIII, XIX. XX. 

          III- TÔN VINH NHỮNG GIÁ TRỊ VĂN HÓA TỐT ĐẸP CỦA SỰ KIỆN LỊCH SỬ SÁNG TẠO RA CHỮ QUỐC NGỮ.

          1. Sự sáng tạo ra chữ Quốc ngữ, sự sáng tạo vĩ đại của ngành Ngôn ngữ học thế giới, thành tựu kỳ diệu của duyên tương ngộ Tiếng Việt với chữ Latinh.

          Lần đầu tiên trên thế giới, ở thế kỷ thứ XVII những chữ cái Latinh biểu âm của hệ ngôn ngữ Rôman đa âm ở Châu Âu đã được vận dụng sáng tạo và thành công để tạo ra một hệ thống chữ viết mới của Tiếng Việt, loại hình ngôn ngữ đơn âm đa thanh của Châu Á đã hàng ngàn năm quen sử dụng hệ thống chữ viết tượng hình, biểu ý theo ô vuông của Hán Nôm.

          Đưa được loại hình chữ viết Tiếng Việt bằng chữ Latinh biểu âm dễ viết, dễ đọc, dễ học, dễ nhớ thay thế cho loại hình chữ viết tượng hình, biểu ý theo ô vuông là một sự sáng tạo vĩ đại của ngành Ngôn ngữ học thế giới, là một thành tựu kỳ diệu của duyên tương ngộ Tiếng Việt với chữ Latinh, làm cho ngôn ngữ chữ viết Á Âu gần gũi, gắn bó với nhau, quan hệ mật thiết với nhau hơn, góp phần làm phong phú thêm cho nền văn hóa chung của nhân loại.

          2. Sự sáng tạo ra chữ Quốc ngữ giúp cho chữ viết Tiếng Việt “thoát Hán” dứt khoát và ngoạn mục.

          Có chữ Quốc ngữ, Tiếng Việt thoát hẳn sự phụ thuộc vào chữ Hán không như chữ Nôm trước đây. Tiếp xúc hàng ngàn năm với chữ Hán người Việt đọc hiểu chữ Hán nhưng phát âm theo Tiếng Việt gọi là âm Hán Việt. Mọi tinh hoa văn hóa Á Đông viết bằng chữ Hán được người Việt tiếp nhận và đọc thành âm Hán Việt. Khi đã có chữ Quốc ngữ thì mọi chữ Hán Việt ấy đều được viết ra dễ dàng, không còn cần phải lục tìm trong bộ nhớ xem chữ Hán ấy viết thế nào, có bao nhiêu nét. Đó là sự “thoát Hán” về chữ viết, thoát hẳn một cách nhanh gọn và ngoạn mục trong diễn đạt về ngôn ngữ viết.

          3. Chữ Quốc ngữ là công cụ hữu hiệu và tuyệt vời giải phóng trí tuệ của người Việt Nam, mở ra một không gian vô tận cho tư duy sáng tạo của người Việt. Chữ Quốc ngữ dễ viết, dễ đọc, dễ học, dễ nhớ nên bất cứ một ý nghĩ nào, một tư duy mới nào đến trong đầu thì người Việt đều có thể dễ dàng ghi lại bằng chữ Quốc ngữ, từ những khái niệm trừu tượng của triết học, của khoa học xã hội, những tứ thơ, những vần thơ của văn học hoặc những thuật ngữ mới của khoa học kỹ thuật hoặc khoa học tự nhiên, nói sao viết vậy, lời nói và chữ viết gắn liền với nhau.

          4. Được Latinh hóa, loại hình chữ viết phổ cập nhất và sâu rộng nhất của thế giới nên chữ Quốc ngữ dễ dàng hội nhập với thế giới, dễ dàng dưa vào máy tính, nâng cao được nhanh chóng trình độ hiểu biết của dân chúng, đưa văn minh của Việt Nam phát triển toàn diện, hòa nhập dễ dàng với xu thế toàn cầu hóa.

          Với chữ Quốc ngữ, ngôn ngữ Việt trở thành một ngôn ngữ văn hóa, một ngôn ngữ khoa học hiện đại, trong sáng, rõ ràng, chính xác, diễn đạt một cách dễ dàng và lưu loát mọi tri thức mới của nhân loại, của thời đại trên mọi lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, khoa học kỹ thuật, khoa học nhân văn và trên mọi diễn đàn quốc tế.

          5. Tôn vinh sự kiện lịch sử sáng tạo ra chữ Quốc ngữ là tôn vinh những cống hiến của các nhà truyền giáo phương Tây, những nhà ngôn ngữ học đẳng cấp và tài ba của hệ ngôn ngữ Rôman: Alexandre de Rhodes (người Pháp), Francisco de Pina, Gaspar do Amaral, Antonio Barbosa (người Bồ Đào Nha), Christophono Borri (người Ý) đã đưa hết tài năng, trí tuệ và tình yêu Tiếng Việt cùng với người Việt sáng tạo ra chữ Quốc ngữ, loại hình chữ viết Tiếng Việt dễ viết, dễ đọc, dễ học, dễ nhớ thay cho hệ thống chữ viết Hán Nôm khó viết, khó đọc, khó học, khó nhớ.

 

                                                                                      07.04.2021

 

Dự án nổi bật